TIẾP DÂN, GIẢI QUYẾT KN - TC

Bình chọn

0 người đã tham gia bình chọn

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 263

  • Tổng 12.332.280

Quảng Bình quê ta ơi!

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Đó là tựa bài hát trứ danh của nhạc sĩ Hoàng Vân. Một bài tỉnh ca được hát nhiều nhất nếu có người bắt nhịp và cũng được biết đến nhiều nhất trong số những bài tỉnh ca đã ra đời. Người ta vẫn nghĩ, “quê ta ơi” là chỉ Quảng Bình, nhưng tôi lại nghĩ khác, “quê ta ơi” ở đây là thuộc Việt Nam, Quảng Bình của Việt Nam, của trong mỗi người đã biết đến, nhớ đến và đã đi đến với quê hương Quảng Bình hiền hậu.

 

1. Tính ra, mảnh đất hiền từ Quảng Bình nhập vào quốc gia Đại Việt đã có 945 năm. Những nghiên cứu khoa học chỉ rõ, năm 1069, Lý Thường Kiệt thu nạp ba châu Bố Chinh, Địa Lý, Ma Linh vào Đại Việt. Dấu ấn của mảnh làng thuần việt đầu tiên dưới rặng Hoành Sơn-Đèo Ngang là làng Pháp Kệ (Quảng Phương, Quảng Trạch) hiện vẫn lưu tồn trong đó ký ức vó ngựa Lý Thường Kiệt cùng đoàn quân thu phục đất đai hương hỏa. Pháp Kệ là ngôi làng cổ thuần Việt nhất ở Quảng Bình.

Nơi đây không chỉ có văn hóa Việt mà còn là vùng đất hòa hợp với những dấu ấn của người Chăm đã hiện diện từ hơn 3.500 năm trước mà cố GS Trần Quốc Vượng từng khai quật ở di chỉ khảo cổ Cồn Nền là một cánh đồng phía ngoài làng. Dấu ấn Chăm còn thể tỏ nhất ở đây là các tượng cổ bằng đá, đồng mà một số gia đình còn lưu giữ. Phía đầu làng, trong làng và cuối làng còn có đến ba giếng Chăm cổ, nước vẫn còn trong mát soi bóng thời gian.

Nhưng trước khi có làng thuần Việt này, phía trên xã Quảng Phương, các nhà khoa học phát hiện những chiếc trống đồng của thời kỳ văn hóa Đông Sơn. Xa hơn nữa, người ta đã tính toán cộng đồng dân cư ở đây đã có mặt từ thời kỳ đồ đá giữa với hơn 10.000 năm từ nhiều mảnh rìu đá thu giữ được trong các đợt khảo cổ.

Quảng Bình Quan, biểu tượng Quảng Bình mấy trăm năm trước được phục dựng. 
Đây là cửa ngõ kiểm soát trên đường thiên lý Bắc Nam xưa Ảnh: Tư liệu

Khi về với Đại Việt, mảnh đất hiền hậu này trải qua những cái tên rất cổ như Bố Chính, Lâm Bình, Minh Linh. Rồi năm 1375 có tên phủ Tân Bình, năm 1397 thành danh trấn Tân Bình, đến năm 1402 có tên phủ Tây Bình, rồi 1466 trở lại phủ Tân Bình, năm 1600 có tên phủ Tiên Bình. Năm 1604 danh xưng Quảng Bình xuất hiện dưới thời chúa tiên Nguyễn Hoàng khi ngài thống nhất các địa danh hành chính khu vực và chính thức đưa ra danh xưng này trong hành trình lấy “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” theo lời khuyên của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để cát cứ xứ Đàng Trong.

Chiết tự xưa diễn giải rằng, Quảng là lớn, Bình là thái bình. Đó là giấc mơ thái bình rộng lớn của tiền nhân để lại cho con cháu sau này. Đã hơn 410 năm, dằng dặc thời gian nhưng cái tên đó vẫn thiêng liêng neo giữ trên bản đồ Tổ quốc, như minh chứng thủy chung, son sắt.

2. Nhà sử học Dương Trung Quốc từng gọi đất Quảng Bình là nơi chốn của “Biên lực sinh tồn”. Bởi tự xưa đây là vùng biên viễn, trấn biên. Và nhà sử học đã mô tả: “Với những con người sinh ra từ mảnh đất Quảng Bình ngày nay, dường như luôn có một số phận nghiệt ngã thách đố từ những đặc trưng của không gian lịch sử này. Nhìn trên bản đồ hình thể đất nước, đây là khúc thắt hẹp nhất từ biển Đông đến miền tây núi non của rặng Trường Sơn.

Trong lịch sử, vùng đất Quảng Bình luôn tồn tại như một vùng biên của nhiều chiều kích lịch sử. Nó là ranh giới phương Nam lãnh thổ Đại Việt thời nhà Lý được coi là thời kỳ tạo dựng một nền tự chủ vững bền với Thăng Long là trung tâm của nền văn hiến. Nó là nơi diễn ra thử thách đầu tiên, dân tộc ta phải đối phó với nhà Tống trên cả hai hướng Bắc và Nam bằng sự chặn đứng các mưu đồ xâm lăng và tiến hành cuộc Nam tiến không chỉ để mở mang lãnh thổ mà còn để tiếp nhận những yếu tố văn hóa bản địa “phi Trung Hoa” nhằm gắn kết với Đông Nam Á và văn minh Ấn Độ”. 

Đồng Hới của Quảng Bình hôm nay đã khang trang hơn trước Ảnh: Minh Phong

Chính sự khắc nghiệt của không gian lịch sử đã đưa lại cuộc chứng giám nội chiến tương tàn mấy trăm năm của Trịnh-Nguyễn mà sông Gianh là giới tuyến. Và cuối cùng, chúa Nguyễn đã thắng chúa Trịnh ở ngay chính trên mảnh đất Quảng Bình. Rồi tiền nhân xưa ứng đãi với người anh em thua cuộc bằng hành động được nhắc nhở trong nhiều sử sách nhà Nguyễn. Đó là sự hóa giải hận thù neo giữa sông Gianh mấy trăm năm phân tranh. Sau một trận chiến đẫm máu, có tới 30.000 tù binh của quân Trịnh (theo Thực Lục) bị bắt giữ.

Có người muốn trị tội, chúa Nguyễn Phúc Lan lên tiếng không nên giết mà đưa những tù nhân này đi khai hoang lập ấp, mỗi người được "cấp cho canh ngưu điền khí (giống má, sức kéo, đất đai và nông cụ), chia ra từng bộ, từng xóm, tính nhân khẩu, cấp lương ăn để khai khẩn ruộng hoang thì trong khoảng mấy năm, thuế má có thể đủ cho quốc dụng và sau hai mươi năm sinh sản càng nhiều, có thể thêm quân số khỏi lo về sau". Với cảnh chết chóc của binh đao hai bên, chúa Nguyễn không chỉ khao quân đại thắng mà còn lo tế linh hồn cho cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Ngài ca ngợi sự vẻ vang, chiến thắng và sự ngậm ngùi thương tiếc vỗ về quân Nguyễn.

Đối đãi quân Trịnh ngài chỉ trách không biết sức mình, phải gánh chịu thua trận. Ngài cũng dành huấn dụ nhân ái: "Than ôi, sống chẳng nên công, xót các ngươi chết mà vô ích. Nay vâng đức lớn thánh linh, bày đàn tế tỏ lòng thương tiếc. Từ nay muôn phiền não thảy tiêu trừ. Về sau nghìn buồn lo đều rửa sạch. Các ngươi nên tìm về quê cũ, hưởng xôi thơm cốt nhục thân tình. Nhận đúng quê hương chớ làm kẻ xa xôi lữ khách. Ô hô thương thay! Cúi mời thượng hưởng".

3. Quảng Bình đang tưng bừng những ngày kỷ niệm 410 năm danh xưng tên tuổi của mình. Mảnh đất khắc nghiệt về thiên nhiên, chịu bao biến cố va đập của lịch sử nhưng trước sau như một về lòng chung thủy với dân tộc. Các nhà khoa học đã có hai hội thảo quốc gia về Danh nhân Quảng Bình và Quảng Bình 410 năm hình thành và phát triển. Khí tiết một vùng đất, tấm lòng con người nơi đây, sự kiên cường, gan dạ, dũng mãnh, thông minh...đều hiển hiện qua mỗi lát cắt tham luận của các vị giáo sư tiến sĩ đầu ngành.

Người ta nhìn về mảnh đất đầy khó khăn này là nơi chốn hội tụ của nhiều hiền tài giúp quê hương kinh bang tế thế. Từ người mở cõi đầu tiên là Lý Thường Kiệt, rồi Hoàng Hối Khanh, Hoàng Kế Viêm, Hồ Cưỡng...là những võ tướng có công lớn giúp dân khai mở ruộng đất cho con cháu đời đời phát triển dòng họ, làng mạc. Mảnh đất này cũng sản sinh ra người con ưu tú đưa lại hình thể nước Việt Nam về đến mũi Cà Mau vâng mệnh chúa Nguyễn mở cõi phương Nam ấy là Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Các nhà sử học nói, nhà Nguyễn là triều đại đầu tiên đưa nước Việt xuống mũi Cà Mau thì đại thần Nguyễn Hữu Cảnh là người số một phải kể về công trạng này.          

Bản quán Quảng Bình được các nhà sử học hàng đầu định danh là nơi của “địa linh, nhân kiệt” từ thuở xa xưa. Và ngày nay, người ta thấy dòng máu ở đây kế thừa đức độ tận trung với nước, tận hiếu với dân. Những vị tướng lừng danh như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên...đã tiếp nối, khai mở khí phách của tiền nhân xa xưa để hun đúc nên nhân cách của mình theo Đảng, theo Bác Hồ. Cả Quảng Bình trải qua bao cuộc chiến, lòng người đều son sắt. Dưới bom đạn của Mỹ, người Quảng Bình vẫn anh dũng kiên cường.

Nay nhìn lại, có 159 xã phường thì đã có 157 xã phường được phong danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đảng và Chính phủ cũng tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất, 2 Huân chương Độc lập hạng nhì, 797 Huân chương các loại và tuyên dương 11 anh hùng LLVT, 16 anh hùng Lao động cho quê hương Quảng Bình “Hai giỏi”. Ngày nay, Quảng Bình đang phấn đấu từng ngày, từng khắc để đi lên, để hội nhập, và người ta tin rằng, Quảng Bình sẽ làm được ước vọng phát triển.

Đó là Quảng Bình của quê ta. Quảng Bình của non sông Việt Nam.

Theo Dương Minh
          Báo Quảng Bình

Các tin khác